Đã có rất nhiều lập luận chỉ ra rằng thuyết tiến hóa sắp sụp đổ. Chủ tịch của Trung tâm Center des Etudes et de Prospective sur la Science (CEP) là người đã viết bài báo này. CEP là một tổ chức Công giáo gồm 700 thành viên, liên kết với các nhà khoa học đang tranh cãi về thuyết tiến hóa.

Giáo hoàng Pius XII (Human Generis, 1950) đã yêu cầu rằng các lý lẽ ủng hộ và chống lại thuyết tiến hóa phải được thảo luận với tất cả sự công bằng và chặt chẽ bởi các chuyên gia trong cả thần học và khoa học. Một ủy ban vẫn chưa được thành lập để thảo luận về vấn đề này. Khi được thành lập, uỷ ban nghiên cứu này sẽ phải giải quyết được các vấn đề như sau:

1) Không có bằng chứng thực nghiệm nào cho thấy quá trình tiến hóa vĩ mô – ‘macro-evolution’ (tức là sự tiến hóa từ một loại sinh vật khác biệt thành một loại sinh vật khác) đang xảy ra hiện tại hoặc đã từng xảy ra trong quá khứ. Không ai, trong suốt lịch sử được ghi lại, đã từng chứng kiến điều đó.

Nhà nhân chủng học theo thuyết tiến hóa Jeffrey H. Schwartz đã phát biểu trong cuốn sách Sudden Origins năm 1999 của ông rằng: ngoại trừ tuyên bố của Theodosius Grygorovych Dobzhansky, FMRS (một nhà sinh học người Mỹ gốc Ukraina – ông là một trong những nhà khoa học đã xây dựng thuyết tiến hóa tổng hợp hiện đại) về một loài ruồi giấm mới (tiến hóa vi mô, không tiến hóa vĩ mô), sự hình thành một loài mới, theo bất kỳ cơ chế nào, chưa bao giờ được quan sát thấy.

2) Không có hóa thạch chuyển tiếp (transitional fossils). Nếu quá trình tiến hóa diễn ra, đáng lẽ phải có rất nhiều cấu trúc chuyển tiếp được bảo tồn dưới dạng hóa thạch để ghi lại các giai đoạn phát triển từ loại sinh vật này sang loại sinh vật khác.

Ví dụ, động vật không xương sống (invertebrates) được cho là đã biến đổi thành động vật có xương sống (vertebrates), trải qua nhiều giai đoạn trung gian. Hồ sơ hóa thạch (fossil record) không ghi lại những sự biến đổi như vậy.

Tuy nhiên, có hàng triệu hóa thạch, tất cả đều không có sự biến đổi. Giáo sư Schwartz tuyên bố rằng thay vì lấp đầy những khoảng trống trong hồ sơ hóa thạch bằng cái gọi là những dây liên kết bị thiếu, hầu hết các nhà sinh vật học cổ đại (paleontologists) đều phải đối mặt với tình huống có rất nhiều lỗ hổng trong các hồ sơ hóa thạch, không có bằng chứng về các chất trung gian biến đổi (transformational intermediates) giữa các loài hóa thạch được lập hồ sơ nghiên cứu. Không chỉ thiếu các liên kết mà các nhà tiến hóa chuyên nghiệp giờ đây thừa nhận họ thậm chí không thể tưởng tượng được làm thế nào mà một loài lại có thể có sự liên kết với loài khác.

Trong bài đánh giá của trang American Scientist về cuốn sách In Search of Deep Time của Henry Gee, Peter J. Bowler viết: “Chúng ta không thể xác định tổ tiên hoặc ‘các sợi dây liên kết bị thiếu’, và chúng ta không thể đưa ra các lý thuyết có thể kiểm chứng được về cách các giai đoạn tiến hóa cụ thể ra đời.”

“Gee kiên quyết rằng tất cả những câu chuyện phổ biến về cách những loài lưỡng cư đầu tiên chinh phục vùng đất khô hạn, cách các loài chim phát triển cánh và lông để bay, cách khủng long tuyệt chủng và cách con người tiến hóa từ loài vượn chỉ là sản phẩm của trí tưởng tượng của chúng ta, được thúc đẩy bởi định kiến ​​và định kiến ​”(tập 88, tháng 3-4, năm 2000, trang 169).

3) Không có bằng chứng về sự tiến hóa ở cấp độ phân tử (molecular level). Ngay cả với dữ liệu trình tự DNA, chúng ta không thể truy xuất trực tiếp vào các tiến trình tiến hóa, do đó, việc tái tạo khách quan quá khứ đã biến mất chỉ có thể đạt được bằng trí tưởng tượng sáng tạo (N.A. Takahata, Genetic Perspective on the Origin and History of Humans – Annual Review of Ecology and Systematics; tập 26, 1995, tr34).

DNA và các bằng chứng di truyền khác được coi là bằng chứng về sự tiến hóa được phát hiện là không phù hợp với hồ sơ hóa thạch và hình thái so sánh (comparative morphology) của các sinh vật.

Nhà nhân chủng học, Tiến sĩ Roger Lewin đã nhận xét: “Tác động tổng thể của vấn đề này, là Phát sinh chủng loại phân tử (molecular phylogenetics) hoàn toàn không đơn giản như những người tiên phong của nó đã tin tưởng … Sự sống động của thời kỳ xã hội Byzantine liên quan tới sự thay đổi bộ gen có nhiều hậu quả khác đối với phát sinh loài phân tử, bao gồm thực tế là các gen khác nhau nói lên những vấn đề khác nhau.” (“Family Feud”, New Scientist, tập 157, ngày 24 tháng 1 năm 1998, trang 39).

4) Thang thời gian địa chất (geological timescale) được đưa ra thảo luận. Thuyết tiến hóa phụ thuộc vào độ tuổi của vật chất đá trên thế giới, được tính theo thang thời gian địa chất. Thang đo này dựa trên các nguyên tắc địa chất gần đây đã bị vô hiệu bởi các thí nghiệm trong phòng thí nghiệm. (French Academy of Science 1986, 1988, Geological Society 1993, tháng 5-6, năm 2000).

Nếu sự thật này được biết đến vào thế kỷ 19, Darwin không bao giờ có thể xây dựng lý thuyết của mình. Sự tiến hóa phụ thuộc vào các thành tạo địa chất mất hàng triệu năm để hình thành, và Charles Lyell, một nhà địa chất học cũng như là một người bạn của Darwin, đã chứng minh cho những năm đó với những nguyên tắc địa chất của ông. Chính những nguyên tắc này hiện đang bị bác bỏ.

Kiến thức mới về địa chất cho phép tái tạo lại các điều kiện ban đầu mà các loại đá được hình thành. Các điều kiện ban đầu này bao gồm cả thời gian hình thành. Trong các cuộc tái tạo, thời gian thực hiện được tính bằng tuần hoặc thậm chí vài ngày chứ không phải hàng triệu năm.

5) Thuyết tiến hóa bỏ qua các định luật vật lý. Quá trình tiến hóa được cho là phá vỡ định luật vật lý phổ biến nhất và được chứng minh tốt nhất, định luật tăng entropy, được gọi là định luật thứ hai của nhiệt động lực học (thermodynamics).

Nó không chỉ áp dụng trong các hệ thống vật lý và hóa học, mà còn trong các hệ thống sinh học và địa chất, trên thực tế là tất cả các hệ thống, không có ngoại lệ. Luật quy định rằng tất cả các hệ thống có xu hướng mất trật tự. Chúng đi theo hướng vô tổ chức và mất đi sự phức tạp.

Chính định luật tăng entropy đã chống lại giả thuyết tiến hóa, bởi vì tất cả các hệ thống tiến hóa được mong đợi sẽ tăng theo thứ tự và độ phức tạp.

Các nhà vật lý học – E.H. Lieb và Jacob Yngvason giải thích: “Không có ngoại lệ nào đối với định luật thứ hai của nhiệt động lực học đã từng được tìm thấy, dù chỉ là một ngoại lệ nhỏ. Giống như định luật bảo toàn năng lượng [định luật đầu tiên], sự tồn tại của một định luật mang tính chính xác và không phụ thuộc vào các chi tiết của mô hình phải có một nền tảng logic độc lập với thực tế là vật chất được cấu tạo bởi các hạt tương tác.” (“A Fresh Look at Entropy and the Second Law of Thermodynamics”, Physics Today, tập 53, tháng 4 năm 2000, trang 32).

Bất chấp những điều trên, và nhiều sự thật khác, nguồn gốc tự nhiên của loài người và vũ trụ vẫn tiếp tục được một số người chứng minh bởi thuyết tiến hóa. Dù các lập luận trái ngược phong phú được bác bỏ, nhưng ngày càng có nhiều nghiên cứu được cập nhật đã phản bác mạnh mẽ về thuyết tiến hoá.


CÀNH NHO MEDIA
Nguồn: Evidence does not support the theory of evolution (irishtimes.com)

Instagram @canhnho.vn